Archives pour la catégorie TRẦN VĂN KHÊ

GS TS Trần Văn Khê cuối đời

GS TS Trần Văn Khê cuối đời

Published on Feb 1, 2016

PHỎNG VẤN GS-TS TRẦN VĂN KHÊ CUỐI ĐỜI Tôi thực hiện cuộc phỏng vấn có thể nói là cuối cùng với GSTS Trần Văn Khê, trước khi mời ông về trường THPT B.P trò chuyện. Kiến thức về âm nhạc dân tộc của tôi gần như là không, rất xấu hổ. Nhưng nghe ông nói tôi thấy ông là bậc GURU trong âm nhạc VN, một nền âm nhạc rất phong phú mà các thế hệ sau ông chưa khám phá hết.

Còn mãi với thời gian – Số 13 – Nét duyên trong dân ca – GS: Trần Văn Khê

Còn mãi với thời gian – Số 13 – Nét duyên trong dân ca – GS: Trần Văn Khê

Published on Jun 23, 2015

CẢI LƯƠNG VIỆT | Phát biểu của GS Trần Văn Khê

CẢI LƯƠNG VIỆT | Phát biểu của GS Trần Văn Khê

Ajoutée le 26 oct. 2016

Chào cả nhà cải lương việt nam với tiêu chí bảo tồn và phát huy cội nguồn dân tộc.Kênh được lập ra để giúp kết nối những người yêu ca cổ tình quê hương xích lại gần nhau hơn.Với đầy đủ những video kinh điển thuộc thể loại cải lương xã hội,cải lương tuồng cổ nhằm phục vụ mọi người xem,sở thích mỗi người.Rât mong mọi người luôn ủng hộ ca cổ tình quê hương.

PHÓNG SỰ: Tình cảm của kiều bào với GS TS Trần Văn Khê

PHÓNG SỰ: Tình cảm của kiều bào với GS TS Trần Văn Khê

Published on Jun 26, 2015

Khi nghe tin GS TS Trần Văn Khê, cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, qua đời sáng 24/6/2015, nhiều người yêu kính ông vẫn không khỏi bàng hoàng, tiếc nhớ. Những người bạn, người học trò của ông, trong đó có nhiều kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài, đã ngay lập tức chia sẻ với phóng viên chúng tôi cảm xúc cũng như những kỷ niệm không thể nào quên được về một con người gần gũi, tài năng, uyên thâm và mang nặng trong mình tình yêu với âm nhạc dân tộc. Mời quý vị và các bạn cùng theo dõi trong phóng sự sau.

GS TS TRẦN VĂN KHÊ đã được bổ sung vào quỹ tên đường của TP HCM, tin tức tháng 10, 2016

GS-TS TRẦN VĂN KHÊ đã được bổ sung vào quỹ tên đường của TP.HCM với 13 nhân vật
Phạm Tu,Nguyễn Cơ Thạch,Cao Đăng Chiếm Nguyễn Văn Khối,Hoàng Trọng Mậu,Nguyễn
Thi Lựu, Trần Hữu Nghiệp, Nguyễn Văn Trí, Trần Văn Sắc, Thẩm Thệ Hà, Trần Quý Kiên,
Nguyễn Đình Khánh và Trần Văn Khê.

tran van khe.jpg

Đời hoạt động nghệ thuật của Giáo sư Trần Văn Khê qua ảnh

Giáo sư Trần Văn Khê – cuộc đời tận hiến cho nhạc dân tộc

 

Gửi 12:48pm | 24/06/2015

Sinh ra trong chiếc nôi âm nhạc cổ truyền miền Tây Nam Bộ, đến khi trút hơi thở cuối cùng, Giáo sư Trần Văn Khê dành trọn tấm lòng cho văn hóa nước nhà.

Giáo sư - Tiến sĩ Trần Văn Khê là người có công lớn trong giảng dạy, nghiên cứu, quảng bá và giữ gìn nhạc dân tộc Việt Nam.
Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê là người có công lớn trong giảng dạy, nghiên cứu, quảng bá và giữ gìn nhạc dân tộc Việt Nam.

Giáo sư – Tiến sĩ âm nhạc dân tộc Trần Văn Khê vừa qua đời ở tuổi 94. Dù không được ai giao phó, suốt cuộc đời mình ông tự đề cho bản thân bổn phận phụng sự nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Qua đó gửi gắm tình yêu văn hóa dân tộc lớn lao, cũng như góp phần truyền « lửa » cho thế hệ trẻ.

Tài năng của Giáo sư Khê được đơm hoa kết quả từ chiếc nôi gia đình giàu truyền thống âm nhạc, đậm cốt cách văn hóa.

Ngày 24/7/1921, Trần Văn Khê ra đời trong căn nhà lá dọc theo sông Sầm Giang, thuộc quận Châu Thành, Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang). Gia đình hai bên nội ngoại đều nằm trong giới nhạc truyền thống với bốn đời đều là nhạc sĩ cổ truyền. Khi còn nằm trong bụng mẹ, Trần Văn Khê được nuôi dưỡng bằng tiếng đàn, lời ca vọng cổ, điệu hò, câu hát ru. Ngày chào đời, ông được gia tộc đón mừng bằng tiếng sáo, tiếng đàn bầu, điệu đàn tranh…

Sáu tuổi, Trần Văn Khê biết đàn cò, đàn kìm. 12 tuổi, ông biết đàn tranh. Từ nhỏ, ông đi theo gánh hát cải lương Đồng Nữ Ban của người cô ruột. Lúc này, ông gắn bó với âm nhạc tự nhiên như một con người phải hít thở để sống mà chưa hề nghĩ về việc một ngày nào đó mình trở thành nhà nghiên cứu nhạc dân tộc.

Sớm mồ côi cha mẹ, Trần Văn Khê cùng hai em của mình hưởng sự giáo dục nghiêm khắc, nề nếp theo đúng khuôn phép lễ giáo miền Nam xưa từ người cô ruột (bà Trần Ngọc Viện, hay còn gọi là Ba Viện). Thông minh và có trí nhớ tốt, từ thời sơ học đến khi rời quê nhà lên Sài Gòn học bảy năm nội trú trường Trương Vĩnh Ký (nay là trường chuyên Lê Hồng Phong, TP HCM), Trần Văn Khê luôn là học sinh ưu tú, thường xuyên nhận được học bổng. Ông không chỉ giỏi Pháp văn mà còn rất giỏi Việt văn, Hán văn, là học trò cưng của giáo sư Phạm Thiều khi ấy.

Học hành chăm chỉ, tích lũy được nền tảng kiến thức vững vàng, toàn diện về nhiều mặt giúp Trần Văn Khê có nền tảng vững chắc để ngày càng tiến xa hơn trên con đường học vấn, dùi mài kinh sử nơi xứ người sau này.

Cuộc đời Giáo sư Khê có những ngả rẽ, cuối cùng mọi con đường đều đưa ông trở về công việc nghiên cứu, quảng bá âm nhạc dân tộc.

Năm 1941, sau khi hoàn thành xuất sắc chương trình tú tài, Trần Văn khê nhận được học bổng ra Hà Nội học Trường Thuốc. Ông mong muốn trở thành bác sĩ như kỳ vọng của gia đình.

Quãng đời làm sinh viên ở miền Bắc thổi bùng niềm đam mê âm nhạc dân tộc vốn có sẵn trong huyết thống của ông. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, Trần Văn Khê chỉ nghe bài La Marseillaise (Quốc ca Pháp) trong mỗi dịp lễ lạt. Ngày khai giảng Đại học ở Hà Nội năm đó để lại trong lòng chàng trai miền Tây dấu ấn không quên khi nghe bài hát được dùng làm quốc ca Việt Nam khi đó: « Bên núi non hùng vĩ trời Nam/ Đã bao đời khí anh hùng chưa tan ». Lần đầu tiên trong đời Trần Văn Khê, có lời ca nhắc nhở ông về một bản sắc riêng cần có của một đất nước độc lập, thôi thúc ông muốn dành thời gian tìm hiểu thật nhiều về lịch sử, văn hóa, cội nguồn dân tộc.

Giai đoạn này, Trần Văn Khê và những người bạn thân thiết như Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ… được tắm mình không khí sáng tạo âm nhạc, tham gia hoạt động sôi nổi trong phong trào sinh viên yêu nước. Trong khi Lưu Hữu Phước liên tục sáng tác những ca khúc khơi gợi lòng yêu nước như: Người xưa đâu tá, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, ca kịch Tục Lụy (lời thơ Thế Lữ)…, Trần Văn Khê giữ vai trò nhạc trưởng ban nhạc Đại học Hà Nội.

Giáo sư Trần Văn Khê bên nhạc sư Vĩnh Bảo (trái). Ảnh: Nguyễn Á.

Sự biến chuyển mạnh mẽ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân làm con đường sự nghiệp của Trần Văn Khê rẽ sang hướng khác. Cuối năm 1943, trong không khí sôi sục của phong trào « xếp bút nghiên » ở Hà Nội, Trần Văn Khê hoãn kế hoạch thực tập tại bệnh viện lao, trở lại miền Nam. Ông bị nhà trường cắt học bổng nên cùng bạn bè lập gánh hát nhỏ đi các tỉnh miền Nam trình diễn, lấy tiền gửi gạo ra miền Bắc cứu đói.

Khoảng năm 1945, Trần Văn Khê tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông không cầm súng ngày nào mà được giao nhiệm vụ lập ra một ban nhạc quân đội với vai trò Nhạc trưởng quân đội Nam Bộ. Tuy giữ nhiệm vụ này không lâu, ông dốc sức cùng bạn bè tôn vinh tiếng nhạc lời ca dân tộc, kêu gọi tình yêu quê hương trong giai đoạn đặc biệt của đất nước.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp theo học Luật Quốc tế tại Viện Khoa học Chính trị Paris (Institut d’etudes Politiques). Năm 1951, ông ra trường với bằng cấp loại ưu về chuyên ngành Quan hệ Quốc tế. Vì sức khỏe yếu, ông phải nằm viện dưỡng lao trong khoảng ba năm. Đây là giai đoạn quyết định ngả rẽ mới trong sự nghiệp của Trần Văn Khê. Ông đăng ký làm luận án tiến sĩ tại Đại học Sorbonne với đề tài « Âm nhạc truyền thống Việt Nam ». Năm 1958, ông làngười Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc của đại học Sorbonne với hạng tối ưu, nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ hội đồng chấm thi.

Từ đó, Tiến sĩ Trần Văn Khê bước vào con đường giảng dạy, sưu tầm, quảng bá âm nhạc dân tộc không ngừng nghỉ. Liên tục trong hơn 50 năm, ông dạy học, nghiên cứu âm nhạc ở Pháp và ở hơn 20 đại học các nước, đồng thời tham gia hàng trăm hội thảo khoa học, diễn thuyết, nói chuyện về âm nhạc khắp nơi.

Không chỉ am hiểu về âm nhạc cổ truyền trong nước, ông thuần thục, rành rẽ về nhiều nền âm nhạc của các quốc gia châu Á. Điều này giúp ông nhận được sự kính trọng từ bạn bè quốc tế. Ông luôn chủ động học hỏi, đào sâu âm nhạc cổ truyền các nước để từ đó so sánh, đối chiếu trở lại với nhạc dân tộc trong nước.

Sau 56 năm ở Pháp, năm 2006 Trần Văn Khê về định cư tại TP HCM, « tiếp lửa » cho phong trào quay lại với nhạc cổ truyền.

Từ trái sang: nhạc sư Vĩnh bảo, nghệ sĩ Hải Phượng, giáo sư Trần Văn Khê tại buổi nói chuyện về âm nhạc cổ truyền ở tư gia. Ảnh: Hồ Nhựt Quang.

Về nước ở độ tuổi 85, Giáo sư Trần Văn Khê chưa nghỉ ngơi mà bắt đầu một chặng đường mới trong sự nghiệp giảng dạy, sưu tầm và giữ gìn vốn cổ. Ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai không chỉ là tư gia mà còn là một địa chỉ văn hóa quen thuộc với khán giả.

Tại ngôi nhà này, ông cùng các cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê dành cho những ai muốn tìm tòi về nhạc cổ truyền. Cũng tại đây, hàng trăm buổi nói chuyện chuyên đề, biểu diễn nghệ thuật được ông chủ trì, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả thành phố suốt gần mười năm qua.

Từ trước đó, khi đang ở Pháp, Giáo sư Khê luôn tận dụng mọi dịp để về nước tiếp xúc và làm việc với giới chuyên môn trong nước, tiếp tục công việc sưu tầm các thể loại âm nhạc. Năm 1999, lần đầu tiên ông được mời về TP HCM dạy học cho sinh viên môn âm nhạc Việt Nam. Ông xem đây là bước ngoặt lớn của đời mình vì cuối cùng sau thời gian dài dạy học bằng tiếng Pháp hay Anh, ông được dùng tiếng mẹ đẻ, truyền đạt cho giới trẻ Việt Nam về những giá trị tuyệt vời của âm nhạc dân tộc.

Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên trở thành di sản văn hóa thế giới. Giáo sư Tô Ngọc Thanh khẳng định đó là một phần công sức lớn của Trần Văn Khê. Giáo sư Khê còn là cố vấn đặc biệt cho Ủy ban thành lập hồ sơ về Đờn ca tài tử Nam Bộ để gửi UNESCO. Năm 2013, Đờn ca tài tử được tổ chức này công nhận Di sản văn hóa phi vật thể.

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1181731
đăng bởi:

Dimanche 30 octobre à 15h30 : Projection en avant- première du film « Trần Văn Khê, passeur de musiques », réalisé par HÔ THUY TIÊN, CENTRE MANDAPA, 6 rue Wurtz, 75013 PARIS

Agenda / Infos / News

Dimanche 30 octobre : Projection en avant- première du film « Trần Văn Khê, passeur de musiques  »

                        Tran Van Khê et son élève Khanh Van     

        

 

Le dimanche 30 octobre, un an après la disparition du professeurTrần Văn Khê, un hommage lui est rendu de 15h30 à 17h30 

avec la projection du film

Trần Văn Khê, passeur de musiques   (durée 57′)

un film documentaire de HÔ Thuy Tiên

La projection sera suivie d’un échange avec le public, avec le musicien Tran Quang Hai et la réalisatrice

résumé : De 1997 à 2015 la réalisatrice HÔ Thuy Tiên , nièce de Trần Văn Khê met ses pas dans les siens pour offrir un film documentaire entre témoignage et confidences. Des origines de Tran Van Khê au soir de sa vie, du Vietnam à la France, de la tradition à la modernité parcourez un siècle d’histoire, découvrez  un autre personnage, témoin et acteur de l’Histoire tumultueuse de son pays. Son exil, sa déchirure, puis son retour sur sa terre natale.
Son amour infini pour son pays, pour son peuple, pour la musique, toutes les musiques.

 

Réserver votre place par téléphone auprès du Centre Mandapa : 01.45.89.99.00

 

Le DVD du film sera vendu  à cette occasion. Il inclue les versions française et vietnamienne du film et comportera de nombreux bonus : interviews de l’équipe de réalisation, la chanteuse  Huong Thanh, le jazzman Nguyen Lê, des séquences de moments musicaux joués par Tran Van Khê avec le musicien traditionnel Nguyen Vinh Bao,  Nguyen Lê et de nombreux amis.

Le produit de la vente permettra de créer une bourse Trần Văn Khê destinée à un chercheur/chercheuse ou musicien/musicienne traditionnel/le vietnamien/ne.

Possibilité de commander  le DVD à l’avance au prix de 12 € au lieu de 15 €

Contact : collectiforchidees@gmail.com

http://www.tranvankhe-lefilm.com/agenda/

 

TRẦN VĂN KHÊ : ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

bat quai

Khi nói đến âm dương, chúng tôi không nghĩ đến thuyết âm dương trong Kinh dịch của Trung Hoa mà muốn đề cập về tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, thể hiện ngay trên chiếc trống đồng do tổ tiên chúng ta chế tạo vào thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu đã nhận ra trên mặt chiếc trống đồng có những hình ảnh mô tả sinh hoạt của người dân sống vào thời kỳ xa xưa ấy, đồng thời có chạm khắc hình các con thú, đặc biệt là hươu và cá. Con hươu tượng trưng cho núi, cá tượng trưng cho nước, vốn là hai yếu tố vô cùng quan trọng đối với người Việt.

tvk am duong 2

Chúng ta vẫn dùng hai chữ giang sơn để chỉ đất nước, điều này cho thấy núi với nước tuy hai mà một. Liên hệ đến lịch sử của dân tộc, chúng ta thấy có huyền thoại con Rồng cháu Tiên, tượng trưng cho hai yếu tố nước và núi. Hoặc truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh đề cập đến việc người xưa bảo vệ đất nước chống thiên tai, trong đó núi và nước giúp chúng ta xác định rõ tư duy và quan niệm sống của dân tộc cho rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau. Lưỡng phân mà lưỡng hợp: đó chính là một trong những tư tưởng triết lý của Việt Nam – như cố giáo sư Trần Quốc Vượng thường nói.

tvk 3tvk 4.jpg

Quan điểm âm dương bàng bạc trong mọi sinh hoạt của đời sống người Việt, từ cách ăn uống hàng ngày cho đến cách chữa bịnh trong y học. Ở đây chỉ xin nêu ra một số nhận xét trong lãnh vực âm nhạc để làm sáng tỏ tư tưởng lưỡng phân, lưỡng hợp đó.

Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Nhạc khí

tvk 5

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù. Một nhóm Ca trù thường có ba người, người ngồi giữa là đào nương vừa hát vừa nhịp phách. Phách là một thanh tre hay một miếng gỗ được gõ bằng hai cái dùi, một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai, tượng trưng cho dương và âm. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là phách cái và phách con. Quan điểm cái với con cho thấy nữ với nam là hai giới khác nhau mà bổ sung cho nhau. Gõ phách là một nghệ thuật rất cao, âm thanh phát ra một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là tiếng dương và tiếng âm. Trên thế giới, chưa có loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

tvk 6

Phách ca trù – tiếng phách độc nhứt vô nhị trên thế giới

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là trống đực và trống cái tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm.

tvk 7.jpg

Dàn nhạc lễ Gò Vấp

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như tang, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tong, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng và tiếng trống đó gọi là tiếng dương.

tvk 8

Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Đây là cách đánh tối và tiếng trống này là tiếng âm. Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi.

Bài bản

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.
Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương, thông thường luôn có một vế trống và một vế mái, có khi gọi là câu xô và câu kể. (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò mái hai, mái ba, có nghĩa là một câu có một câu trống và hai hoặc ba câu mái – hoặc hai hay ba đoạn kể – chứ chữ mái ở đây không có nghĩa là mái chèo). Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

Nhớ nàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông

Hình dáng của bút và nghiên ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như thuyền là dương mà sông là âm.

Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là lớp trống hay lớp mái cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như lưu thủy trường và lưu thủy đoản, những bản trước và sau mang tên ngũ đối thượng, ngũ đối hạ (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới), hoặc một bản mau, một bản chậm như phú lục và phú lục chậm.

Cách biểu diễn

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là đào nương, ả đào, người đờn phải là nam gọi là kép, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

tvk 9

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải là khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là Lên non hay Lên rừng thì bài hát họa phải là Xuống sông hay Xuống bể và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, liền anh luôn luôn cầm cây dù còn liền chị thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương.

TVK 10

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc – phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

GSTS TRẦN VĂN KHÊ